Hiển thị các bài đăng có nhãn quy hoạch xây dựng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quy hoạch xây dựng. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2015

Quy hoạch đô thị là gì? Kỹ năng của các nhà quy hoạch?

Nếu quy hoạch là tất cả, có thể nó chẳng là gì ! " - Aaron Wildavsky

Dưới đây là danh sách những kỹ năng mà nhà quy hoạch phải có, nếu muốn mình thành công (danh sách do Hiệp hội Quy hoạch Mỹ đưa ra):

quy-hoach-do-thi-la-gi-ky-nang-cua-cac-nha-quy-hoach

- Kiến thức về cấu trúc không gian đô thị (thiết kế cấu trúc vật thể) và cách thức mà đô thị hoạt động - Khả năng phân tích thông tin dân số như lao động, độ tuổi, sức khỏe - Kiến thức lập đồ án và đánh giá dự án - Nắm vững các tiến trình và chương trình đang diễn ra của địa phương, và cả ở cấp quốc gia - Nắm vững tác động môi trường và xã hội về quyết định quy hoạch lên cộng đồng - Khả năng làm việc với công chúng và cộng đồng đa dạng - Khả năng hoạt động như một người trung gian hòa giải khi xung đột lợi ích cộng đồng. - Hiểu biết về mối quan hệ giữa quy định sử dụng đất đai với dịch vụ - Thuần thục các công cụ GIS và các công cụ tin học khác - Kiến thức luật pháp về … mọi mặt liên quan - ….. v.v..

Nguyên nhân của một loạt các phẩm chất trên là do nghề quy hoạch ngày càng đòi hỏi những kỹ năng mới để đáp ứng với biến chuyển của xã hội đô thị. Đô thị biến đổi cấu trúc và không gian bên trong của nó hàng ngày cùng với tốc độ phát triển của các hoạt động sống bên trong như kinh tế, xã hội, giao thông. Trước kia ở giai đoạn đầu và giữa thế kỷ 20, quy hoạch đô thị được quan niệm như là thiết kế một đô thị, tổ chức, bố trí hình dạng vật thể của nó, giống như chúng ta thiết kế một cái máy vậy. Vai trò chính thực hiện quy hoạch được trao cho kiến trúc sư quy hoạch và kỹ sư xây dựng, những người được đào tạo và có chuyên môn về việc thiết kế nên những sản phẩm vật chất dành cho con người cư trú.

quy-hoach-do-thi-la-gi-ky-nang-cua-cac-nha-quy-hoach

Sản phẩm của quan niệm quy hoạch đô thị này là những bản quy hoạch tổng thể (master plan) đã vẽ nên trạng thái đô thị ở trạng thái cuối cùng theo ý tưởng của các kiến trúc sư. Trong đồ án tổng thể đó lại có bản vẽ sử dụng đất để chắc chắn rằng công trình và chức năng sử dụng của nó mới là trung tâm các hoạt động đô thị. Điều này dẫn tới quan niệm quy hoạch đô thị này tuy minh bạch, rõ ràng nhất nhưng khi vận dụng trở nên cứng nhắc, đặc biệt các đô thị cải tạo hay vấp phải sự khó khăn trong nguồn lực thực hiện hoặc các công cụ quản lý cần thiết.

Tuy nhiên vào thời điểm đó thì quan niệm này rất thời thượng vì nó phù hợp với mong muốn của các nhà quy hoạch hồi đó muốn xây dựng những cỗ máy đô thị đơn giản hiệu quả, thông thoáng sạch sẽ cho những vùng đô thị mới, nhất là cho những đô thị tái thiết sau khi thế chiến thứ hai tàn phá.

quy-hoach-do-thi-la-gi-ky-nang-cua-cac-nha-quy-hoach

Nhưng rồi thì hạn chế của quy hoạch đô thị theo quan niệm thiết kế hình dáng vật thể của đô thị ngày càng bộc lộ. Việc quét sạch các khu nhem nhuốc trong đô thị để xây dựng các đô thị mới đơn giản, cao tầng, khô khốc và mang “phong cách quốc tế”, tức là chẳng cần chút gì bản sắc địa phương, dẫn đến việc hủy hoại cả những cộng đồng địa phương đang rất phong phú về đời sống kinh tế xã hội. Dần dần người ta chối bỏ cách quy hoạch như vậy và phê phán các kiến trúc sư quy hoạch quá tập trung vào các ý tưởng, và công năng và thiết kế, mà bỏ qua việc tìm hiểu kỹ càng văn hóa và lối sống kinh tế xã hội tại địa phương. Năm 1961, cuốn sách Cái chết và cuộc sống của các thành phố lớn của Mỹ do Jane Jacobs viết phân tích và phản đối các chính sách cải tạo đô thị vào những năm 1950 của chính phủ Mỹ, cuốn sách luôn đứng thứ nhất như một tài liệu tham khảo về quy hoạch đô thị và tác giả của nó cũng luôn đứng vị trí số 1 trong những nhà lý luận về đô thị.

quy-hoach-do-thi-la-gi-ky-nang-cua-cac-nha-quy-hoach

Tiếp thu các lý luận phê bình và để thay thế cho quan niệm thiết kế hình dạng vật thể của đô thị, những năm 1960 xuất hiện hai quan niệm thay thế. Quan điểm thứ nhất là sửa chữa quan điểm trước kia, tức là người làm quy hoạch trước hết phải tìm hiểu thật kỹ về cuộc sống đô thị trước khi tiến hành thực hiện quy hoạch. Đô thị xem như một hệ thống các chức năng của các hoạt động và người dân ràng buộc nối kết với nhau. Và nhà quy hoạch phải hiểu đô thị như một hệ thống đang hoạt động sau đó mới can thiệp để tối ưu hóa hoạt động của hệ thống đó.

Quan điểm thay thế thứ hai là coi quy hoạch đô thị như một tiến trình tác động liên tục, can thiệp nhiều lần chứ không phải thiết kế và xây dựng một lần là đạt được trạng thái cuối cùng. Cách tiếp cận này là cách áp dụng lý thuyết và ra quyết định trong lĩnh vực khoa học về quản trị sang đối với quy hoạch đô thị. Theo đó thì sau khi xác định các vấn đề đô thị và các mục tiêu của quy hoạch, nhà quy hoạch sẽ cân nhắc các chính sách hoặc các quy hoạch thay thế sau đó thực hiện, khi thực hiện thì giám sát liên tục về hiệu quả thực hiện và tiến trình này sẽ luôn vận hành cho đến lúc đã cải tạo được trạng thái quy hoạch cũ hoặc xuất hiện vấn đề mới.

Qua hai cách nhìn này thì quy hoạch đô thị mang nhiều tính khoa học chính xác hơn tính thiết kế sáng tác và các nhà quy hoạch cần được đào tạo thêm nhiều kiến thức về kinh tế xã hội và địa lý. Xu hướng biến chuyển này về nhận thức của quy hoạch đô thị dẫn đến việc nguồn nhân lực cho công tác quy hoạch dịch chuyển dần khỏi các trường đào tạo về kiến trúc, kỹ sư mà chuyển sang các ngành đào tạo như địa lý học đô thị, kinh tế đô thị. Và cả kiến thức về môi trường, sinh thái sau này, khi những mối lo lắng về tác động xấu của con người tới môi trường tự nhiên thúc ép các nhà quy hoạch phải lồng ghép tiêu chuẩn sinh thái vào trong dự án của mình, với khát vọng hướng tới một mục tiêu phát triển bền vững.

Mô hình cũ thiết kế kiến trúc đô thị vẫn giữ một vị trí riêng cho mình, đặc biệt khi thiết kế những dự án quy hoạch đô thị mới. Thường thì thiết kế đô thị hay xuất hiện ở những giai đoạn mang tính hành động của cả tiến trình. Tuy nhiên ở một số nước như Việt Nam chẳng hạn, quan điểm cũ này vẫn tiếp tục giữ vai trò chủ đạo.

Những quan điểm nảy sinh thập kỷ 60 phía trên thường được gọi là quan điểm hệ thống hay duy lý, vì cái nhìn về quy hoạch đô thị vẫn xuất phát từ góc độ của cơ quan quản lý, từ trên xuống. Những lý luận dựa trên quan điểm đó lại một lần nữa bị phê phán từ góc độ cộng đồng, từ dưới lên. Những năm 60, khi các phong trào dân chủ, nhân quyền, nữ quyền diễn ra mạnh mẽ ở các nước phương tây thì quy hoạch đô thị cũng không là ngoại lệ. Người ta đặt các vấn đề quy hoạch phải có sự tham gia của cộng đồng địa phương, và ý kiến của những người dân phải có tầm quan trọng ngang với những nhà quy hoạch và quản lý. Vấn đề của quy hoạch là xây dựng một môi trường đô thị tốt để cho cộng đồng sinh hoạt, hướng tới cái phải đạt được chứ không phải hướng tới cái có thể đạt được. Một dự án quy hoạch đô thị ảnh hưởng khác nhau tới những nhóm xã hội trong cộng đồng, nên sẽ dẫn đến một sự đồng thuận chung, công khai để đạt được các giá trị chung, cân bằng giữa các nhu cầu của các nhóm. Như vậy quyết định quy hoạch không còn dựa trên ý chí của nhà quy hoạch hay cơ sở khoa học nữa, mà là một lựa chọn chính trị và giá trị đạt được. Tức là theo quan điểm này quy hoạch đô thị đã trở thành hoạt động chính trị. Và nhà quy hoạch sau khi dồn tâm sức nghiên cứu và thiết kế lập dự án, cần có thêm kỹ năng thuyết trình thuyết phục và làm việc với những nhóm xã hội khác nhau để cân bằng lợi ích giữa các nhóm.

quy-hoach-do-thi-la-gi-ky-nang-cua-cac-nha-quy-hoach

Nhưng làm việc với các nhóm cộng đồng vẫn là chưa đủ. Quy hoạch xây dựng đô thị là một dự án tốn kém và rất cần những nhà đầu tư về vốn, hoặc các nguồn lực khác. Thực tế là chính quyền không đủ ngân sách để xây dựng hết mọi nơi, hơn nữa, việc kêu gọi các nhà đầu tư tư nhân mang lại nhiều sáng kiến giá trị hơn rất nhiều là sự rập khuôn máy móc trong quản lý nhà nước. Và quan điểm này của quy hoạch đô thị dựa trên áp dụng những tính chất của nền kinh tế thị trường, trong đó nhà nước chỉ kiểm soát doanh nghiệp và đảm bảo lợi ích cộng đồng. Câu chuyện “tay ba” giữa chính quyền – nhà đầu tư- cộng đồng đã đẩy vị trí những người làm quy hoạch vào giữa bắt buộc họ phải trang bị thêm những kiến thức về quyền lợi và lợi ích đầu tư của các chủ sở hữu nguồn lực và có kỹ năng đàm phán, thỏa thuận để đảm bảo dự án hoạt động. Một dự án quy hoạch đô thị trở thành một bài toán về quản lý hoạt động hiệu quả hơn là chỉ đạo và lên kế hoạch, chính sách.

Như vậy kỹ năng của nhà quy hoạch trong vòng mấy chục năm đã phải thay đổi bổ sung rất nhiều do những đòi hỏi của một đô thị ngày càng phức tạp. Từ một người chuyên thiết kế trở thành một chuyên gia phân tích kinh tế, xã hội, môi trường sinh thái, có kỹ năng đàm phán thỏa thuận, làm việc với cộng đồng và các nhóm lợi ích khác nhau để đề xuất và thực hiện những phương án đạt được sự cân bằng lợi ích.

Năm 1973 Aaron Wildavsky nhà phân tích chính sách người Mỹ đã nói trong bài luận “Nếu quy hoạch là tất cả, có thể nó chẳng là gì” như sau: "Nhà quy hoạch đã trở thành nạn nhân của quy hoạch; sản phẩm do anh ta tạo ra đang chôn vùi chính anh ta. Quy hoạch trở nên quá rộng lớn đến nỗi nhà quy hoạch không thể bao trùm lên tất cả các chiều của nó. Quy hoạch trở nên quá phức tạp mà nhà quy hoạch không thể theo kịp. Quy hoạch loang rộng theo nhiều chiều mà nhà quy hoạch không còn nhận ra được hình thù của nó nữa. Anh ta có thể là nhà kinh tế, nhà khoa học chính trị, nhà xã hội học, kiến trúc sư và khoa học. Tuy nhiên anh ta đang thoát ra bản chất của cái-gọi-là-quy-hoạch. Anh ta tìm thấy nó ở mọi nơi nhưng không một nơi nào cụ thể."

Trần Quang (Blog dothi)

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2015

Nhận thức lại các khái niệm trong Quy hoạch xây dựng

Thường thì người ta hay làm mọi việc theo thói quen, với các chuyên gia trong từng lĩnh vực, thói quen tư duy là một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của họ. Vậy thì thói quen, đôi khi phải được thử thách bằng cách câu hỏi về lý do tồn tại của nó. Bài viết này, cũng là một dạng như vậy, tự nhận thức lại.

Quy hoạch là gì?


Quy hoạch là một phạm vi rộng của sự hoạch định, quy hoạch xây dựng chú trọng vào việc hoạch định để xây dựng, vậy nên thay vì chúng ta cứ hỏi về các khái niệm quy hoạch xây dựng là gì, và cố gắng tìm cách định nghĩa chúng, thì hãy đặt câu hỏi về việc quy hoạch / hoạch định để làm gì. Quy hoạch là một công cụ để làm một việc có chủ đích, có thể dùng làm công cụ quản lý, có thể dùng làm đòn bẩy kích thích đầu tư, có thể dùng làm kế hoạch thực thi một ý định, hoặc cũng có thể là một công cụ giáo dục, tăng cường nhận thức của cộng đồng, hoặc thậm chí là một công cụ để phá hủy, đàn áp và hủy hoại môi trường. Hãy chú trọng vào mục đích, chứ không phải hình thức ngữ nghĩa.

nhan-thuc-lai-cac-khai-niem-trong-quy-hoach-xay-dung

Sơ đồ thể hiện sự định hướng nhận thức, mã hóa và luật hóa các thành phần quy hoạch theo thị giác chỉ để truyền tải thông điệp.

Bản chất của công việc quy hoạch là dự đoán, mà đã là dự đoán thì không thể lúc nào cũng đúng và cũng rất khó phát hiện sai, vì toàn bộ lập luận đều dựa trên những kinh nghiệm trong quá khứ, và những mong muốn khắc phục nó để không lặp lại sai lầm nữa. Điều này đòi hỏi phải sử dụng một loại tư duy khoa học về sự bất định và kiểm soát rủi ro, hơn và việc hoạch định các điều tốt và theo đuổi chúng, vì chúng có thể không thành hoặc chuyển biến thành các điều xấu, tùy theo cách định nghĩa của chúng ta.

Quy hoạch là để thực hiện và cho phép sửa sai


Sự tiếp tục thực hiện hoạch định kế hoạch dựa trên thống kê, chỉ tiêu và các đánh giá số liệu theo tư duy của phương Tây đã thống trị cái cách mà chúng ta thực hiện các đồ án quy hoạch xây dựng , thực tế, chúng ta đã thấy rằng, chưa bao giờ nó đúng đắn cả. Trong khi cơ chế của chúng ta lại không cho phép chúng ta sửa sai, mà thật ra, sửa sai phải nhanh hơn việc phạm sai lầm thì mới tiến bộ được.

Ở bất kỳ quy mô, phạm vi nào, công tác quy hoạch xây dựng là những thí điểm về ý tưởng phát triển, tập trung, phân tán và sử dụng các nguồn lực, trong bối cảnh cạnh tranh của các bên liên quan. Quy hoạch cho phép chúng ta thử nghiệm trên tất cả mọi vấn đề hiện hữu của đô thị, kể cả những khu vực đã ổn định và nhạy cảm, như các khu trung tâm tài chính, khu công viên, khu bảo tồn hay vùng sinh thái ẩm ướt.

nhan-thuc-lai-cac-khai-niem-trong-quy-hoach-xay-dung

Các kế hoạch tăng cường chất lượng cuộc sống và hạnh phúc con người luôn là kim chỉ Nam cho việc thực thi và sửa sai trong quy hoạch. Trong ảnh: Sự phát triển mạng lưới giao thông thân thiện cho Thủ đô Luân Đôn để xuất bởi Tập đoàn Foster and Partners

Việc phạm sai lầm và tạo điều kiện cho việc sửa sai và thích ứng với sự cạnh tranh, thay đổi và hòa nhập và điều kiện tiên quyết trong cách thực hiện các dự án quy hoạch, chúng ta hiểu ra ở phạm vi tác động lớn, sự tham gia của quá nhiều các bên liên quan, một mặt, cho phép chúng ta thu nhận nhiều ý kiến, nhưng đồng thời cũng hạn chế việc tiếp cận và ra các quyết định nhanh chóng để thực thi và tiếp tục giám sát sửa sai việc thực thi. Hãy chú trọng vào quá trình cho phép sự sửa đổi diễn ra, chứ không phải sự thực thi thiếu thực tế.

Hệ thống giao thông hủy hoại môi trường


Quy hoạch xây dựng vạch ra một lộ trình để lưu thông và giúp định hình các mô hình phát triển đã phổ biến, đã được chấp thuận hay quen thuộc với nhận thức của chúng ta ở thời điểm hiện tại. Hệ thống giao thông được hiểu là nhu cầu của sự tiếp nối, sử dụng các nguồn lực khác nhau ở từng vị trí, quy mô và tính chất. Tổng quát hơn, nó là hệ thống giúp tiêu thụ các nguồn tài nguyên không theo quy luật của tự nhiên, mà theo quy luật tổ chức của con người.

Cách thức tiếp cận mới, xem hệ thống giao thông là một lộ trình để bảo vệ môi trường, phân bổ lại việc sử dụng các nguồn tài nguyên tự nhiên theo đúng quy luật tự nhiên và vai trò của con người là một mắt xích cho sự di chuyển tích cực, đó là một hệ thống sản sinh nhiều hơn các giá trị lưu thông thuần túy, nhất là về khía cạnh đa dạng sinh học, môi trường, xã hội và kinh tế.

nhan-thuc-lai-cac-khai-niem-trong-quy-hoach-xay-dung

Chúng ta tạo ra đường xá để phục vụ chúng ta, và cũng phá hủy thiên nhiên đã, đang và sẽ phục vụ chúng ta. Đây không phải là cách thức phát triển bền vững.

Chúng ta hãy nhìn cách thức mà hệ thống giao thông phát triển trong sự hình thành các đô thị, để thấy rằng, sự lãng phí đầu tư rất lớn và việc phá hoại những đặc tính tự nhiên cơ bản của con người đang diễn ra trầm trọng, chúng ta không thích nghi với những gì có vận tốc di chuyển nhanh hơn chúng ta. Giao thông mà một lộ trình để làm việc và tiếp tục các sự việc trong thời gian sử dụng giao thông. Việc di chuyển và tính chất của hệ thống giao thông dần phải thay thế bằng việc không di chuyển quá vận tốc chuyển động tối đa của con người nhằm duy trì các sự cân bằng trong nhận thức và tâm sinh lý, trong khi việc sử dụng các nguồn tài nguyên được đảm bảo bằng.

Quy hoạch hệ thống giao thông, một mặt để giảm nhu cầu giao thông và đồng thời, sử dụng thời gian giao thông cho chính các hoạt động tích cực là một xu hướng, và đồng thới, làm rõ nhu cầu giao thông là một việc làm thiết yếu hàng ngày để bảo vệ môi trường. Trung bình, chúng ta dành 1/10 ngày cho việc di chuyển và tiêu tốn hơn 1/5 năng lượng cơ thể để thực hiện các hoạt động di chuyển này. Vì vậy, hãy nghĩ đến giá trị nó tạo ra nhiều hơn và việc thực thi nó một cách máy móc.

Hãy nghĩ đến đường xá là một loại không gian dùng để bảo vệ tự nhiên, giảm thiểu và hấp thụ ô nhiễm và trải nghiệm cuộc sống của con người, hơn là nơi chỉ để làm hao mòn lốp xe của bạn.

Sử dụng đất hay sử dụng công trình


Chúng ta đang hoạch định phát triển đô thị và các vùng tập trung dựa trên các cấu trúc phân khu và sử dụng đất vô cùng lạc hậu và cứng nhắc, mặc dù, có rất nhiều chuyên gia đang sử dụng nó.

Có nhiều cách tính toán và hoạch định các chức năng sử dụng đất, nhưng xét cho cùng, nó chịu sự chi phối và quyết định bởi công trình, tức là môi trường thực thể tồn tại trên nó, mà là công trình sản phẩm thì điều tiết thị trường.

nhan-thuc-lai-cac-khai-niem-trong-quy-hoach-xay-dung

Sử dụng đất, chính là việc hoạch định điều kiện tối thiểu sử dụng để bảo vệ môi trường một cách tốt nhất, chứ không phải là việc quy định cụ thể một hình thức nào. Sử dụng là một động từ hướng đến sự cụ thể, trong khi không sử dụng lại.

Đất đai là một công cụ, và công trình là mục đích, đừng lầm lẫn giữa công cụ và mục đích trong vấn đề đáp ứng nhu cầu theo thị trường. Một ví dụ rất dễ thấy, đó là các quy hoạch phân khu, thường hạn chế các nội dung liên quan đến dân cư, dẫn đến các nguồn nhà ở dễ khan hiếm, đẩy giá các dự án nhà ở lên cao hơn, tạo ra nhiều nguồn ô nhiễm hơn do phải sử dụng khoảng cách để di chuyển.

Tính chất tự nhiên của đất đai quyết định cái có thể xây dựng, nhu cầu quyết định cái sẽ xây dựng, và quy hoạch tạo ra một phạm vi cái không nên xây dựng.

KTS Trương Nam Thuận - Thiết kế quy hoạch cấp cao, Tập đoàn thiết kế Ong–Ong, Singapore

Thứ Tư, 24 tháng 6, 2015

Khái niệm, nhiệm vụ và yêu cầu của quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị

Khái niệm quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị


Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị là việc cụ thể hóa nội dung của quy hoạch chung xây dựng đô thị, là cơ sở pháp lý để quản lý xây dựng công trình, cung cấp thông tin, cấp giấy phép xây dựng công trình, giao đất, cho thuê đất để triển khai các dự án đầu tư xây dựng công trình.

khai-niem-nhiem-vu-va-yeu-cau-cua-quy-hoach-chi-tiet-xay-dung-do-thi


Nhiệm vụ quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị


1. Uỷ ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm lập nhiệm vụ quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị căn cứ theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, yêu cầu quản lý xây dựng, yêu cầu của các chủ đầu tư xây dựng công trình và ý kiến của nhân dân trong khu vực quy hoạch, nhưng không được trái với quy hoạch chung xây dựng đô thị đã được phê duyệt.

2. Nội dung nhiệm vụ quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị bao gồm:

a) Yêu cầu diện tích sử dụng đất, quy mô, phạm vi quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000, thiết kế đô thị, thiết kế đồng bộ các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong khu vực thiết kế; 

khai-niem-nhiem-vu-va-yeu-cau-cua-quy-hoach-chi-tiet-xay-dung-do-thi

b) Lập danh mục đề xuất biện pháp cải tạo cho những công trình cần giữ lại trong khu vực quy hoạch cải tạo;

c) Những yêu cầu khác đối với từng khu vực thiết kế.

Nội dung quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị


1. Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị phải bảo đảm các nội dung chính sau đây:

a) Xác định mặt bằng, diện tích đất xây dựng các loại công trình trong khu vực lập quy hoạch đô thị;

b) Xác định chỉ giới đường đỏ, chỉ giới xây dựng, cốt xây dựng của các công trình hạ tầng kỹ thuật trong khu vực lập quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị; 

khai-niem-nhiem-vu-va-yeu-cau-cua-quy-hoach-chi-tiet-xay-dung-do-thi

c) Các giải pháp thiết kế về hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị, các biện pháp bảo đảm cảnh quan, môi trường sinh thái và các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật có liên quan;

d) Đối với các quy hoạch chi tiết cải tạo đô thị phải đề xuất các phương án cải tạo các công trình hiện có phù hợp với nhiệm vụ đề ra và phù hợp với quy hoạch chung xây dựng khu vực.

2. Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị được lập trên bản đồ địa hình và bản đồ địa chính tỷ lệ 1/500 đến 1/2000 tùy theo nhiệm vụ quy hoạch đặt ra.

Điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị


1. Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị được điều chỉnh khi có một trong các trường hợp sau đây:

a) Quy hoạch chung xây dựng đô thị được điều chỉnh;

b) Cần khuyến khích, thu hút đầu tư. 

khai-niem-nhiem-vu-va-yeu-cau-cua-quy-hoach-chi-tiet-xay-dung-do-thi

2. Người có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị thì phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị đã được điều chỉnh.

3. Việc điều chỉnh quy hoạch xây dựng đô thị quy định tại điểm b khoản 1 Điều này phải lấy ý kiến của nhân dân trong khu vực lập quy hoạch chi tiết xây dựng và không được làm thay đổi lớn đến cơ cấu quy hoạch chung xây dựng.